Quảng cáo Global Summit of Women 2024

Kiến tạo bản sắc và chủ quyền văn hóa Việt Nam trên không gian số

24/07/2026 |
G+

Tại phiên họp thứ hai Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam (diễn ra ngày 13/7 vừa qua), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ rõ một trong bốn khoảng trống lớn sau thời gian thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW đó là “sức hấp dẫn và năng lực lan tỏa của các giá trị văn hóa tích cực trong môi trường số chưa theo kịp tốc độ phát triển của các nền tảng và nội dung số”. Đây là điểm nghẽn đang cản trở quá trình chuyển hóa văn hóa thành nguồn lực nội sinh, sức mạnh mềm và động lực phát triển đất nước.

Kiến tạo bản sắc và chủ quyền văn hóa Việt Nam trên không gian số
Kiến tạo bản sắc và chủ quyền văn hóa Việt Nam trên không gian số

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phân tích: “Khi không gian số ngày càng định hình nhận thức, thị hiếu và lối sống xã hội, khoảng trống này đặt ra thách thức đối với năng lực chuyển hóa vốn văn hóa dân tộc thành sức mạnh mềm và quyền dẫn dắt giá trị. Nếu không sớm khắc phục, các giá trị ngoại sinh sẽ ngày càng chiếm ưu thế, làm suy giảm sức hấp dẫn của văn hóa dân tộc và đặt ra thách thức mới đối với việc gìn giữ bản sắc, củng cố niềm tin và truyền thừa hệ giá trị Việt Nam”.

Theo báo cáo Digital 2026, đến cuối năm 2025, Việt Nam có khoảng 85,6 triệu người dùng internet, tương đương 84,2% dân số; số định danh người dùng mạng xã hội đạt khoảng 79 triệu.

Các chương trình mang đậm bản sắc văn hóa luôn thu hút đông đảo người xem trên nền tảng số. (Ảnh: KHÁNH AN)

Mỗi chiếc điện thoại thông minh hay máy tính kết nối mạng giờ đây vừa là cửa ngõ tiếp nhận văn hóa, vừa là một điểm truyền phát thông tin tới hàng triệu người khác. Một làn điệu dân ca, một món ăn truyền thống, một danh lam thắng cảnh… có thể được cả thế giới biết đến chỉ sau vài phút đăng tải.

Nhưng cơ hội không tự động sinh ra sức ảnh hưởng. Trên môi trường số, nội dung phải vượt qua cuộc cạnh tranh quyết liệt, được quyết định bởi thuật toán để giành sự chú ý.

Lý giải khoảng trống này, Tiến sĩ Nguyễn Huy Phòng (Hội đồng Lý luận Trung ương) phân tích: Về nguyên nhân khách quan, sự phát triển như vũ bão của khoa học-công nghệ và trí tuệ nhân tạo (AI) đang dẫn dắt, định hướng hành vi trên mạng. Về chủ quan, theo ông, kể từ khi gia nhập internet năm 1997, Việt Nam nhanh chóng trở thành một trong những quốc gia có tốc độ phát triển internet nhanh nhất khu vực.

Trong khi đó, sản phẩm văn hóa được sáng tạo, quảng bá trên không gian mạng vẫn khiêm tốn, đơn điệu, một phần do tâm lý sính ngoại của một bộ phận giới trẻ khiến giá trị truyền thống bị lãng quên, phần khác do chúng ta chưa thật sự coi trọng xây dựng hệ sinh thái văn hóa trên môi trường số, từ chiến lược đến hành lang pháp lý khuyến khích sáng tạo, quảng bá tác phẩm mới.

Việc chuyển từ mô hình quản lý truyền thống sang quản trị thông minh trong môi trường số cũng còn khoảng cách, trong khi nguồn nhân lực vừa am hiểu văn hóa vừa giỏi công nghệ vẫn thiếu hụt. Việt Nam sở hữu kho tài nguyên chưa có biện pháp căn cơ để chuyển hóa, đưa lên không gian mạng đủ sức cạnh tranh với sản phẩm ngoại nhập.

Nhiều chuyên gia nhận định, nguyên nhân dẫn đến khoảng trống hiện nay là do năng lực chuyển hóa giá trị văn hóa thành sản phẩm số có dấu ấn. Không ít nơi vẫn đồng nhất chuyển đổi số với chụp ảnh hiện vật, số hóa tài liệu hay đưa kho tư liệu lên mạng, dù công việc này là cần thiết nhưng mới tạo ra dữ liệu ban đầu, chưa tạo được sức cạnh tranh.

Thực tế hiện nay đang cho thấy có khoảng cách khá rõ giữa kho tàng văn hóa phong phú của dân tộc với năng lực sáng tạo các sản phẩm văn hóa hiện đại còn hạn chế; giữa số lượng di sản rất lớn với khả năng chuyển hóa thành dữ liệu, tri thức và tài sản trí tuệ; giữa chủ trương phát triển công nghiệp văn hóa với thể chế và thị trường còn thiếu đồng bộ; giữa sự phát triển rất nhanh của các nền tảng số với sức hấp dẫn và khả năng lan tỏa của văn hóa Việt Nam còn chưa tương xứng.

Chúng ta có nguồn tài nguyên văn hóa phong phú, nhưng tài nguyên ấy không thể tự động được khai thác, phát huy và chuyển hóa thành sức mạnh. Muốn văn hóa thật sự trở thành nguồn lực nội sinh, sức mạnh mềm và năng lực cạnh tranh quốc gia, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách và hệ sinh thái phát triển phù hợp, để các giá trị văn hóa được chuyển hóa thành dữ liệu, tri thức, tác phẩm, sản phẩm, thị trường và những giá trị được công chúng tự nguyện tiếp nhận.

Giáo sư, Tiến sĩ Từ Thị Loan, Viện trưởng Viện Nghiên cứu văn hóa Thăng Long lưu ý, chuyển đổi số ngành văn hóa có bản chất khác hẳn các ngành kinh tế- kỹ thuật, mục tiêu không chỉ hướng tới hiệu quả kinh tế hay tự động hóa, mà chú trọng bảo tồn, phát huy giá trị bản sắc, chiều sâu lịch sử, văn hóa, truyền thống, các hình thức biểu đạt sáng tạo.
Chuyển đổi số ngành văn hóa có bản chất khác hẳn các ngành kinh tế- kỹ thuật, mục tiêu không chỉ hướng tới hiệu quả kinh tế hay tự động hóa, mà chú trọng bảo tồn, phát huy giá trị bản sắc, chiều sâu lịch sử, văn hóa, truyền thống, các hình thức biểu đạt sáng tạo.
Giáo sư, Tiến sĩ Từ Thị Loan, Viện trưởng Viện Nghiên cứu văn hóa Thăng Long

Nguyên nhân khác nằm ở cách thức kể chuyện: Nhiều sản phẩm văn hóa chính thống vẫn theo lối truyền đạt một chiều, đầy đủ thông tin nhưng thiếu nhân vật, tình huống, cảm xúc, nên khó tạo sức hấp dẫn.

Bên cạnh đó, hệ sinh thái sáng tạo hiện còn khá rời rạc: Người am hiểu văn hóa chưa chắc thạo công nghệ, người giỏi công nghệ lại thiếu kiến thức lịch sử, mỹ học; nghệ sĩ, doanh nghiệp truyền thông, bảo tàng, nhà trường và cơ quan quản lý chưa có cơ chế hợp tác bền vững, khiến nhiều tài nguyên giá trị vẫn nằm trong kho.

Ở không ít cơ quan, đơn vị, mạng xã hội vẫn chỉ được xem là kênh phụ để đăng lại nội dung đã sản xuất cho báo in, truyền hình, thay vì một không gian sáng tạo có ngôn ngữ riêng; việc nghiệm thu cũng thiên về đếm số lượng tin, bài hơn là đo mức độ lan tỏa, tác động thực chất.

Mặt khác, phần lớn nội dung văn hóa hiện được phân phối trên các nền tảng xuyên biên giới, nên chỉ một thay đổi chính sách hay thuật toán của nền tảng cũng có thể làm thay đổi ngay khả năng tiếp cận công chúng.

Để thu hẹp khoảng trống này, trước hết cần thay đổi cách hiểu về sản phẩm văn hóa số. Bên cạnh số hóa tư liệu, phải tạo ra nội dung có khả năng được tìm thấy, được hiểu, được yêu thích, được chia sẻ và tiếp tục khơi nguồn sáng tạo. Dữ liệu văn hóa cần chuẩn hóa, định danh, bảo đảm bản quyền, khả năng kết nối, tái sử dụng.

Cơ chế đầu tư, đặt hàng cũng cần đổi mới theo hướng Nhà nước tập trung nguồn lực cho dự án nền tảng, sản phẩm có giá trị tư tưởng, nghệ thuật cao, đồng thời mở rộng hợp tác công-tư với doanh nghiệp, nghệ sĩ, người sáng tạo độc lập, và chuyển cách đánh giá từ đếm số lượng sang đo mức độ nhận diện, tương tác, tác động xã hội.

Các bộ, ngành, địa phương cần bố trí nguồn nhân lực vừa am hiểu văn hóa truyền thống, vừa giỏi công nghệ; chú trọng đào tạo, bồi dưỡng tài năng trẻ có đam mê, tinh thần sáng tạo và khát vọng phát triển, để tạo ra những giá trị mới, góp phần kiến tạo bản sắc và chủ quyền văn hóa Việt Nam trên không gian mạng.

Công nghệ chỉ có ý nghĩa khi giúp giá trị văn hóa được tiếp cận sâu hơn, hấp dẫn hơn, điều đó đòi hỏi đội ngũ nhân lực biết kết nối tri thức văn hóa với công nghệ, thiết kế, truyền thông, cùng cơ chế hợp tác giữa nhà nghiên cứu, nghệ sĩ, nhà báo, người làm bảo tàng với cộng đồng sáng tạo nội dung số.

Song song với sản xuất là chiến lược phân phối: Nội dung tích cực không thể chỉ đăng lên rồi chờ công chúng tự tìm đến, mà cần dùng dữ liệu để nhận diện đối tượng, chọn đúng thời điểm, định dạng, nền tảng, chủ động xây dựng cộng đồng, phối hợp các nền tảng lớn để có chiến dịch quảng bá văn hóa Việt Nam. Đồng thời, đầu tư cho kho dữ liệu, công cụ tìm kiếm và kênh phân phối trong nước, bởi năng lực tự chủ không đơn thuần là bài toán truyền thông mà còn là một phần chủ quyền văn hóa số.

Gia đình, nhà trường, báo chí và các thiết chế văn hóa cùng tạo dựng thói quen tiếp nhận chủ động, để mỗi cá nhân thật sự trở thành chủ thể biết lựa chọn và lan tỏa giá trị văn hóa trở thành sức mạnh mềm và quyền dẫn dắt giá trị.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã yêu cầu quán triệt “ba chuyển dịch lớn” phù hợp nền văn hóa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, đó là: Chuyển từ tư duy coi văn hóa là một lĩnh vực phát triển sang xác lập văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là trụ cột của phát triển, động lực tăng trưởng mới; chuyển từ không gian văn hóa truyền thống sang phát triển văn hóa trong cả không gian thực và không gian số; chuyển từ tư duy bảo tồn là chủ yếu sang kết hợp chặt chẽ giữa bảo tồn và sáng tạo.

Phát biểu tại phiên họp Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã yêu cầu quán triệt “ba chuyển dịch lớn” phù hợp nền văn hóa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, đó là: Chuyển từ tư duy coi văn hóa là một lĩnh vực phát triển sang xác lập văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là trụ cột của phát triển, động lực tăng trưởng mới; chuyển từ không gian văn hóa truyền thống sang phát triển văn hóa trong cả không gian thực và không gian số; chuyển từ tư duy bảo tồn là chủ yếu sang kết hợp chặt chẽ giữa bảo tồn và sáng tạo.

“Bốn khoảng trống” giúp chúng ta nhìn rõ những điểm yếu, còn “ba chuyển dịch lớn” chỉ ra cách khắc phục. Đó là sự chuyển từ bảo tồn tĩnh sang phát triển động; từ quản lý hành chính sang kiến tạo hệ sinh thái; từ đầu tư cho hoạt động sang đầu tư cho năng lực; và từ đánh giá bằng số lượng sang đánh giá bằng tác động thực chất đối với con người và xã hội.

Phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm có ý nghĩa định hướng cụ thể hóa rất quan trọng, chuyển Nghị quyết số 80 từ hệ thống quan điểm, mục tiêu và định hướng chiến lược thành một chương trình hành động có trọng tâm, có chủ thể chịu trách nhiệm, có sản phẩm đầu ra, có thời hạn và có tiêu chí đánh giá.

Cùng với đó là bốn nhiệm vụ trọng tâm nhằm tạo nền tảng cho phát triển văn hóa trong những năm tiếp theo.

Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế, tạo đột phá nhằm giải phóng sức sáng tạo của toàn xã hội, huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển văn hóa.

Thứ hai, đẩy mạnh xây dựng chủ quyền văn hóa trên không gian số, nâng cao sức hấp dẫn và khả năng lan tỏa, đồng thời bảo vệ các giá trị văn hóa Việt Nam.

Thứ ba, thúc đẩy chuyển hóa di sản và vốn văn hóa thành tri thức, tài sản trí tuệ, sản phẩm sáng tạo và nguồn lực cho giáo dục, khoa học-công nghệ, công nghiệp văn hóa và đổi mới sáng tạo.

Thứ tư, phát triển công nghiệp văn hóa thành một động lực tăng trưởng mới, chuyển sức mạnh văn hóa thành năng lực cạnh tranh quốc gia.

Những định hướng nêu trên không chỉ là lời giải cho “khoảng trống” đã được chỉ ra, mà còn mở ra một cách tiếp cận mới: Khi văn hóa thật sự được đặt đúng vị trí và được vận hành bằng tư duy sáng tạo, công nghệ và thị trường, thì không gian số sẽ không còn là thách thức, mà trở thành môi trường để các giá trị văn hóa tích cực lan tỏa mạnh mẽ, bền vững và có sức dẫn dắt.

Theo THÀNH NAM (Báo Nhân Dân)

Theo baocantho.com.vn



TAG
Tổng Bí thư Chủ tịch nước Tô Lâm Sản phẩm văn hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW